Skip to main content

Chinese Pronunciation

Jargon

Initial = consonant (or a "zero initial" if the word starts with a vowel)

Final = contains the vowel and any closing consonant (coda).

Vận mẫu (Nguyên Âm 元音, Vowel, Final)

Trong tiếng Trung gồm có tổng cộng 36 vận mẫu (nguyên âm), trong đó bao gồm 6 vận mẫu đơn và 30 vận mẫu kép. Khác với thanh mẫu, vận mẫu có thể  phát âm thành tiếng khi đứng độc lập một mình, khi phát âm thanh quản sẽ mở rộng ra và phát âm thành tiếng.

Speak chinese phải mở rộng khẩu hình miệng.

o đọc là ua. Example: lǎopó (vợ).

e có 2 cách đọc: ơ hay ưa
Đi nữa là mệt zhớt => các chữ de, ne, le, me, zhe đọc là ơ (khi không có dấu). Chỉ có 5 phiên âm này đọc là ơ thôi. Còn lại đọc là ưa hết. Nếu có dấu thanh điệu đọc là ưa.

iu đọc giống tiếng Việt.

Chữ ü đọc chu môi, tròn môi đọc uy trong "uy quyền" nhưng không được nhoẻn miệng. Khi typing thì type v
üan => oen trong "hoen mi cay". Khi đi với "j, q, x" thì bỏ hai chấm trên đầu. Tránh nhầm với uan

an, ao đọc mở rộng khẩu hình miệng. en đọc là "ân".

ou đọc giống tiếng anh là "âu"

Vận mẫu có chữ g phải mở khẩu hình + lên mũi (ngân vang và dài): ang, eng, ong

ong đọc là "ung" trong "ung bứu". iong đọc là "i-ung"

ia => ya

iao => ieo

iou viết tắt thành -iu, cả hai chữ đều đọc như nhau. Viết tắt khi phía trước có 1 thanh mẫu.
Example: Liù số 6

ian không đọc là "yên" mà đọc là "i-an"

Trong iao, ian, iang. Chữ "a" hay đọc là "e".

iong => i + ung, đọc nhanh, lên mũi

biến điệu + thanh 4:
búdà -> bùdà

ua -> oa trong bông hoa. Nhớ [xīguā] là quả dưa hấu
uo -> ua, dễ nhầm với từ ở trên. Ex: 多 "duō"

uei -> viết tắt thành ui. Viết tắt khi phía trước có 1 thanh mẫu. Đây là chữ thứ 2 viết tắt cùng với iou. Ex: 谁 "shéi" nghĩa là "who?"

uen viết tắt thành un

Khi nhìn thấy "r" thì đọc cong lưỡi. er đọc cong lưỡi

Thanh Mẫu (Phụ Âm 辅音, Consonant, Initial)

b- p- m- f- (+ua) là những âm môi => mím môi, bật ra

b đọc mở khẩu hình, không bật hơi, giống như p trong từ "sapa".



/d- t- n- l-/

âm bật hơi mạnh: p, t, k. Âm bật hơi phải đọc dứt khoát, nhanh, mạnh.
p -> 胖, [phán][pàng], fat, béo
t đọc như th (th tiếng việt, không phải "th" tiếng anh) nhưng bật hơi mạnh. Bật hơi ngay trên lưỡi và răng, lấy lưỡi đập vào răng. Example: 討論 [tǎolùn] thảo luận
k đọc nặng, ma sát, bật hơi. Không học như h.

d đọc là chữ t tờ trong tiếng việt. Nhớ Yang de xin
Phân biệt d vs t.

  • g đọc là c. Ex: gēge (ca ca)
    • Phân biệt g vs k => g đọc không bật hơi.

h có 2 cách học. Đọc nặng thành kh, đọc nhẹ là h. Linh hoạt tùy trường hợp.

j, q, x (+i) là hàng thanh mẫu chân răng: khép răng, lưỡi thoải mái
j đọc giống chữ "ch". Còn q cũng là chữ "ch" và bật hơi từ chân răng

Quy tắc 1: j, q, x + ü => bỏ dấu hai chấm trên đầu, đọc giữ nguyên. Tức là j, q, x không bao giờ đi với u mà chỉ đi với ü (nhưng vì đã bỏ dấu 2 dấu chấm nên đầu nên nhìn giống u).
=> thực ra là ü

Quy tắc 2: Khi i, u và ü đứng đầu hoặc đứng độc lập thì phải tự động thêm một số thành phần cho phù hợp (nếu đứng độc lập thì cách đọc giữ nguyên)
i -> yi or y
u -> wu or w. Example: chữ 我 là uo -> "uan" -> "wan", 王老师 "wáng lǎoshī" wuang -> wang
ü -> yu (thêm y, bỏ hai chấm trên đầu). Exmple: "Hànyǔ"

uo viết là "wǒ" 我 đọc là "ua" (trong ya - ua).

Trong Chinese, không có quy tắc chuẩn để đọc 'y' nên cứ nghe rồi bắt chước.

  • z, c, s + ư đọc khép răng, để lưỡi sau răng thụt ra thụt vào đập vào chân răng.

    • c đọc bật hơi, vị trí lưỡi giống "z"
    • s đọc giống tiếng việt chữ "sư" trong sư huynh
  • zh, ch, sh, r (+ư) => cong lưỡi

  • ch đọc bật hơi

Quy tắc 7 âm cuối cùng khó đọc nhất: z, c, s, zh, ch, sh, r + i => đọc là ư, viết thì vẫn viết là "i".

Cantonese Initials

Cantonese có 8 TM. Mandarin có 21 TM

j -> y

c = ch

Thanh Điệu (Tone, dấu)

Tiếng Trung có 4 thanh chính + 1 thanh nhẹ: Thanh 1, thanh 2, thanh 3, thanh 4 + 1 thanh nhẹ.
Tiếng Việt có 5 dấu chính + 1 dấu ngang.

Mở rộng khẩu hình.

Quy tắc giảm bớt thanh 3 (the half third tone). Thanh 3 khi đọc riêng thì đọc điệu, lên xuống. Còn khi giao tiếp thì đọc giống dấu ? trong tiếng Việt.

Chữ i có dấu trên đầu thì bỏ dấu chấm đi.

Thanh 4 đọc rất nặng, mở khẩu hình, đọc giống như hét vào người nghe. Thanh 4 này nặng hơn dấu huyền trong tiếng việt nhiều.

Thanh nhẹ (neutral tone): thêm dấu huyền tiếng việt. Except:
de không thêm huyền đọc là "tợ)"
ma không thêm huyền nếu được dùng cuối câu để hỏi ?. Nhưng māma đọc là "ma mà" có dấu huyền
le lờ

The half 3rd tone:

Cantonese

Tiếng Việt có 6 thanh điệu chính, bao gồm: thanh ngang (không dấu), huyền, sắc, hỏi, ngã, và nặng.
Tiếng Quảng Đông cũng có sáu thanh điệu nhưng rất khác với tiếng Việt.

Thanh 1, 3, 6 đều là dấu ngang; cấp độ giảm dần 1 > 3 > 6

  • Thanh 1 giống thanh ngang trong tiếng Quan Thoại. Một vài người hoa ở VN đọc thanh 1 thành dấu sắc tiếng Việt.

  • Thanh 3 giống thanh ngang trong tiếng Việt. Từ thanh 1 xuống 2 cấp độ.

  • Thanh 6 phát âm dễ nhất cho người Việt là dấu huyền nhưng thấp hơn (phát âm phần cuối dấu huyền thấp xuống nhưng ngang qua)

    • vẫn kéo dài
  • so (1) > fa > me (3) > re > do (6)

  • má ma ma ma mà


Thanh 2, 5 là thanh đi lên. Thanh 2 cao hơn thanh 5

  • Thanh 2 tiếng Quảng giống thanh 2 (đi lên) trong Quan Thoại nhưng dài hơn. Không giống dấu hỏi hay dấu sắc tiếng việt. Đọc như dấu sắc nhưng phần đi lên chậm.
  • Thanh 5 giống dấu nặng trong giọng miền Nam

Thanh 4 là thanh duy nhất đi xuống. Giống dấu huyền tiếng Việt.

Người Hoa ở Việt Nam gọi là bị ảnh hưởng bởi ngữ âm của tiếng Việt do giao thoa ngôn ngữ suốt mấy trăm năm nên nhiều âm trong tiếng Quảng "trở nên thuần Việt" tức là vị Việt Hoá theo âm của Tiếng Việt

Ở Sài Gòn chia ra hai cách phát âm thanh 1 là nhóm thứ nhất đọc như tiếng Quảng ở Hồng Kông, nhóm thứ 2 phát âm thành dấu sắc, tiếng Phúc Kiến, Khách Gia thì ở Việt Nam rất hiếm người nói và tiếng Triều Châu đa số là ở Cần Thơ (em nghĩ vậy) thầy có thể đi tới Cần Thơ ngay gần bến Ninh Kiều nơi đó tập trung rất đông người Hoa gốc Triều Châu và Quảng Đông.

Em đang khá đau đầu với vấn đề 懶音 của giới trẻ Hồng Kông, do là người phát âm kiểu tiêu chuẩn nên đôi lúc khó hiểu vì người trẻ cứ phát âm lười như vậy.

Reference:

jyutping.org

Thầy Dennis dạy tiếng Hong Kong playlist

Zhuyin - Chú Âm

k

Jyutping - Việt Bính

Việt bính (Chữ Hán: 粵拼, việt bính: jyut6 ping3, tên đầy đủ: 香港語言學學會粵語拼音方案 (hoeng1 gong2 jyu5 jin4 hok6 hok6 wui2 jyut6 jyu5 ping3 jam1 fong1 ngon3): Hương Cảng ngữ ngôn học học hội Việt ngữ bính âm phương án) là một phương pháp sử dụng chữ Latinh để phiên âm ngôn ngữ Quảng Châu (tức tiếng Quảng Đông - Cantonese, mà người Trung Quốc còn gọi là Việt ngữ. Vì tỉnh Quảng Đông 廣東, Quảng Tây 廣西 nguyên trước là đất của Bách Việt 百粵, nên gọi hai tỉnh ấy là tỉnh Việt).

In 1993, the Linguistic Society of Hong Kong designed and proposed a romanization system known as 'Jyutping'.

Không giống với tiếng Việt mà cần các dấu phụ để gõ văn, Việt bính chỉ cần 26 chữ Latinh và 6 chữ số. Các số 1-6 trong Việt bính là số của thanh điệu.

Putonghua là tiếng simplified Chinese

Tiếng quảng có âm đuôi (vĩ âm) giống tiếng việt. Tiếng Quan thoại không có.

References

yang de xin video 2 hours long

Interactive Pinyin Chart